Nguồn: Mỹ thuật Hải Phòng
Nghệ thuật là khó khăn, đòi hỏi người sáng tạo phải tốn nhiều công sức. Nó không phải cuộc dạo chơi mà là sự kiếm tìm, có thể hôm nay bội thu ngày mai lại mất mùa nhưng với tôi - sự hướng tới cái đẹp thì không bao giờ ngừng.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết sưu tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Bộ sưu tập tượng gốm dân gian Việt Nam của nhà sưu tập Phan Quốc Dũng tại TT Triển lãm & Mỹ thuật Hải Phòng
Triển lãm Nhiếp ảnh, Mỹ thuật về đề tài Hoa phượng & TP Hoa phượng đỏ
Triển lãm các tác phẩm Mỹ thuật và Nhiếp ảnh sáng tác về đề tài Hoa phượng và thành phố Hoa phượng đỏ, do sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng phối hợp với Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng tổ chức.
Lễ trao giải, khai mạc: 16h thứ ba, ngày 29/1/2013
Triển lãm mở cửa đến ngày 20/2/2013 (11 Tết)
Địa điểm: Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật thành phố Hải Phòng.
Lễ trao giải, khai mạc: 16h thứ ba, ngày 29/1/2013
Triển lãm mở cửa đến ngày 20/2/2013 (11 Tết)
Địa điểm: Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật thành phố Hải Phòng.
Chân dung và tự họa của các họa sĩ Hải Phòng
Từ xa xưa tới nay tranh chân dung luôn tồn tại và phát triển song song với tất cả các nền mỹ thuật trên thế giới. Nhiều lúc, nhiều nơi nó còn mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ còn là thẩm mỹ thông thường.
Trải qua nhiều thời đại với những biến thiên của lịch sử và khoa học, tranh chân dung cũng biến đổi cả về quan niệm lẫn kỹ thuật miêu tả. Song, có một vấn đề không đổi, đó là người hoạ sĩ luôn tìm cách nắm bắt, miêu tả nhân vật của mình một cách trung thực nhất.
Muốn làm một bức chân dung cho đúng nghĩa, các hoạ sĩ còn phải học hành có khi đến hết đời vẫn chưa "tốt nghiệp". Do vậy, mặc dù hầu hết các hoạ sĩ đều từng vẽ chân dung nhưng tác phẩm tranh chân dung luôn là của hiếm.
Đối với dòng chân dung tự họa. Khi nói đến việc lựa chọn một chủ đề để vẽ, một trong những thuận tiện nhất là khuôn mặt bạn nhìn thấy trong gương mỗi ngày. Nhưng tự vẽ chân dung đi kèm với một tập hợp phức tạp của câu hỏi làm thế nào để bạn nhìn thấy chính mình so với làm thế nào để bạn thể hiện bản thân? Bạn giao tiếp với bút và toan như thế nào? Ai sẽ nhìn thấy nó và tại sao? Có lẽ câu hỏi quan trọng nhất của chúng ta là là các nghệ sĩ hy vọng để có được điều gì khi tự họa?
MTHP xin giới thiệu bộ sưu tập chân dung và tự họa của các nghệ sĩ tạo hình Hải Phòng. Trong khuôn khổ giới hạn của việc sưu tầm, bộ sưu tập sau đây nhất định là chưa đầy đủ và không thể toàn diện.
"Hãy cứ vẽ như không biết vẽ thì đã sao?"
Nguyễn Thế Khoa
"Hãy cứ vẽ như không biết vẽ thì đã sao?" (Bùi Xuân Phái).
Giữa tháng 12 vừa qua, họa sĩ Lê Đại Chúc từ Hải Phòng lên Hà Nội và ghé lại thăm nhà báo Nguyễn Thế Khoa. Giữa hai ông có một cuộc trao đổi về câu nói trên của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Cuộc trao đổi này thể hiện quan điểm rất thú vị về nghệ thuật và sáng tác mỹ thuật. MTHP xin giới thiệu nội dung cuộc trao đổi này:
- Anh thường nói: Hoạ sĩ vẽ gì thì vẽ, cuối cùng vẫn là tự hoạ, xin anh giải thích thêm chiêm nghiệm này?
- Có người hỏi tôi: hoạ sĩ là ai? Tôi đã trả lời: Hoạ sĩ khác người thợ vẽ ở chỗ dù vẽ gì thì vẽ cuối cùng vẫn là tự hoạ. Theo tôi, hội họa, nghệ thuật bao giờ cũng là vấn đề riêng tư, rất riêng tư. Người họa sĩ vẽ gì thì cũng theo con mắt riêng, tư tưởng, cảm xúc riêng, cách đánh giá riêng, theo những mách bảo riêng của trái tim mình. Nếu để một lọ hoa cho 10 họa sĩ cùng vẽ thì dứt khoát sẽ ra 10 bức tranh hoa khác nhau. Chữ tự họa tôi dùng ở đây nhằm nhấn mạnh rằng họa sĩ dù vẽ đối tượng nào thì cùng đều thể hiện chân dung của bản thân: suy nghĩ và quan niệm về cuộc sống, con người, về đối tượng vẽ, quan niệm về hội họa, và cả học vấn, sở thích... nghĩa là tất cả những gì chất chứa trong lòng mình. Người họa sĩ thậm chí còn vẽ ra những điều mà mắt thường không nhìn thấy nhưng họ lại nhìn thấy được thông qua tôn giáo, thông qua khoa học, thông qua tâm linh. Nhà bác học Nga Gamov khi nghiên cứu về vật chất tối (Dark Substance) từng nói: “Những cái mắt thường không nhìn thấy không có nghĩa là chúng không tồn tại”. Tôi vẽ đống rơm màu xanh, lũy tre màu đen, con trâu màu đỏ và khi tranh của tôi đẹp, có hồn thì mọi người đều thấy tôi có lý. Tôi cũng vẽ mình thành ông da đen, lông mày màu xanh và hai mắt màu vàng. Danh họa Gaugin nói: “Mọi cái đều có thể”.
- Không ít người khen Lê Đại Chúc là trường hợp hiếm hoi của một người không qua trường lớp, chỉ nhờ tự học mà thành công trong hội họa. Anh nghĩ sao về lời khen này?
- Đây là một sự nhầm lẫn lớn. Hầu hết các danh họa trong nước và trên thế giới đều thành công chủ yếu là nhờ tự học chứ không phải nhờ trường lớp. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí và họa sĩ Nguyễn Sáng đều học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhưng thành công lớn nhất của họ với tranh sơn mài là do tự mày mò nhiều năm học từ truyền thống sơn mài dân tộc. Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng có dạy về sơn mài nhưng chỉ rất đại khái. Pablo Picasso cũng vậy, ông chỉ học ở Học viện Mỹ thuật Madrit một năm rồi bỏ ngang sang Paris rồi nhờ tự học rồi thành danh. Cần nhấn mạnh rằng trường lớp là quan trọng nhưng tự học mới là cái quyết định thành công của bất kỳ họa sĩ nào. Nếu chú ý ta sẽ thấy là các bậc thầy hội họa thường không bao giờ dạy ở các trường và nếu không học được họ thì khó có thể thành công. Sự tự học có cái hay là hoàn toàn tự do, chỉ học những gì thiết thân nhất và có thể chọn lọc những cái hay nhất của các bậc thấy, không bị phụ thuộc vào bất cứ chương trình giáo án nào.
Picasso, họa sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 20 là một tấm gương tự học lớn. Khi đã thành danh và giàu có, Picasso đã mua rất nhiều tranh của người khác. Picasso quan niệm đơn giản thế này: "Họa sỹ là người sở hữu bộ sưu tập riêng của mình". Đặc biệt là ông ấy mua nhiều nhất là tranh của H.Russo, vốn là một họa sĩ tự học hoàn toàn. H.Russo đã là nguồn cảm hứng và có ảnh hưởng lớn đến sáng tạo của Picasso, Kadanski và cả Matisse. Picasso, Ka danski và Matise vĩ đại bởi họ luôn nhận ra và học hỏi không ngừng những cái hay, cái vĩ đại của người xung quanh.
Có lần, một bạn họa sĩ nổi tiếng khen tôi: “Không qua trường lớp mà vẽ được như ông thì thật đáng khâm phục”. Tôi liền đùa lại: “Ông nói ngược rồi! Qua trường lớp mà vẫn vẽ được như ông thì mới đáng kính phục”. Trong câu nói đùa của tôi, có một sự thật nghiêm túc: sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo hội họa bao giờ cũng rất kỵ những trói buộc trường quy, những khuôn vàng thước ngọc áp đặt và người nghệ sĩ nếu không vượt qua những rào cản đó thì khó có thể thành công. Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng ghi vào nhật ký câu này: “Hãy cứ vẽ như không biết vẽ thì đã sao!”. Đối với thế giới Bùi Xuân Phái chưa phải là một họa sĩ vĩ đại nhưng câu nói này của ông thì quá vĩ đại, thế giới hội họa chưa ai nói được như ông. Một câu nói chứng tỏ ông hiểu hội họa đến mức tận cùng . Chính các họa sĩ nổi tiếng nhất thế giới cũng chưa ai dám chắc mình đã thực sự hiểu hội họa. Salvado Dali từng nói: “Tôi hiện là họa sĩ nổi tiếng nhất thế giới, ấy vậy mà tôi vẫn không hiểu được vẽ là thế nào?”. Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng chỉ cho tôi xem tranh của Gaugin, Russo và nói: Vẽ như thế này là sai rồi đây này nếu theo quan niệm trong trường nhưng chính những cái sai này mới là đẹp. Nghệ thuật là tình yêu mà tình yêu thì không ai có thể dạy ai được. Tôi ngờ rằng những ngưòi hay lớn tiếng chỉ dạy về tình yêu thực ra chưa hiểu mấy về tình yêu. Chính tình yêu của mỗi người sẽ tự mách bảo cách yêu, cách chinh phục người mình yêu của họ. Người phương Tây có câu: "Nghệ sỹ sinh ra đã là nghệ sỹ ngay chứ không phải do đào tạo". Nhấn mạnh điều này không phải là việc coi thường các trường lớp nghệ thuật nhưng quả thật các trường lớp có thể dạy vẽ nhưng không đào tạo được họa sĩ, có thể dạy viết văn nhưng không thể đào tạo nên nhà văn, có thể dạy nhạc nhưng không đào tạo được nhạc sĩ. Học nghệ thuật là học để quên chứ không phải để nhớ. Làm nghệ thuật là một quá trình tự đào tạo qua công việc lao động sáng tạo bền bỉ hàng ngày, nếu muốn thành công thì phải nhớ đến cái nguyên tắc hồn nhiên mà Bùi Xuân Phái nhắc nhở: “Hãy cứ vẽ như không biết vẽ”…
- Anh nghĩ thế nào về tính dân tộc của hội họa, có nên đề cao tính dân tộc trong hội hoạ hiện đại?
- Tính dân tộc là một thuộc tính tự nhiên của hội hoạ. Người họa sĩ luôn thuộc về một đất nước một dân tộc và đầu tiên, anh ta bao giờ cũng vẽ con người và thiên nhiên đất nước mình dân tộc mình và vì thế không thể lẫn với con người của đất nước dân tộc nào khác. Các đặc trưng về tư duy, cảm xúc, rồi các đặc trưng về màu sắc, đường nét, hình khối cũng tạo nên tính dân tộc của một nền hội họa. Thế giới từng biết đến những nền hội họa đặc sắc của Hà Lan, Italia, Pháp …Tuy vậy, các họa sĩ lớn không chỉ thuộc một đất nước, một dân tộc, họ thuộc về nhân loại. Theo tôi, ngày hôm nay không nên quá đề cao tính dân tộc khiến cho người nghệ sĩ lúng túng và tự làm nghèo mình. Ví như dân tộc ta không chỉ là sơn mài, lụa, hay chỉ là con trâu, bến nước gốc đa, áo tứ thân hay cứ dùng màu nâu sẽ ra dân tộc. Nguy hiểm hơn là việc tuyệt đối hóa dân tộc tính dễ dẫn đến một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khi dân tộc nào cũng cho mình là nhất, thì đó là nguồn gốc những bi kịch lớn của nhân loại hiện nay như chiến tranh, thù hận…Có lẽ, theo tôi, bây giờ mối quan tâm lớn nhất của các họa sĩ Việt Nam là làm sao tranh mình vẽ thật hay thật đẹp, trong cái hay cái đẹp luôn bao hàm tính dân tộc và tính nhân loại. Thế giới người ta rất sòng phẳng, rõ ràng về việc này. Trong các bảo tàng và galerry lớn thế giới, dưới một bức tranh đẹp, sau tên của họa sĩ, bao giờ họ cũng ghi quốc tịch và thậm chí cả nguồn gốc dân tộc của họa sĩ. Ví dụ: Họa sĩ X, quốc tịch Mỹ, gốc Việt Nam.
- Theo anh thì hội hoạ Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ hội hoạ thế giới?
- Nếu nói về tình hình chung thì nền hội họa của chúng ta mới là ở cỡ khu vực thôi. Nhưng có một số họa sĩ có thể bày ra ở nước ngoài một cách đàng hoàng. Đó là những tên tuổi như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thì có thể coi là một thiên tài, người đã đưa sơn mài từ mỹ nghệ lên thành hội họa và được coi là một trong ba người làm sơn mài giỏi nhất thế giới. Các họa sĩ Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm cũng có những bức tranh độc đáo, gây ấn tượng trong hội hoạ thế giới.Thế hệ sau đó cũng có những nhân tài hội họa. Mỹ thuật Miền Nam thì tôi không biết nhiều, nhưng ở Miền Bắc, thì tôi thấy họa sĩ Lê Quảng Hà, họa sĩ Đặng Xuân Hòa và họa sĩ Đinh Quân thì chả thua ai hết. Bày tranh của những họa sĩ này ra nước ngoài thì cũng có cái để người ta xem. Tuy vậy, cũng phải nói rằng chúng ta chưa có một nền hội họa có thể sánh với những cường quốc hội họa của thế giới.
-------------
Nguồn: Mỹ thuật Hải Phòng
Họa sĩ là ai?
Phan Cẩm Thượng
"Ở phương Tây, quý nhất là họa sĩ tự học, thứ đến là họa sĩ học từ một bậc thầy, hạng bét là họa sĩ học tại trường. Picasso nói rằng Trường Mỹ thuật Paris đã đẽo ra những đôi guốc giống nhau, nhưng không đi được. Người tự học đáng quý vì họ thực sự có nhu cầu thôi thúc nội tại, không chờ đến ai dạy mình".

Nhà phê bình Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng - Tranh Quốc Thái
Vẫn như thời bao cấp, họa sĩ là một khái niệm danh dự, hơn là một nghề nghiệp, vì trong phân công lao động hiện tại, nó chẳng nằm trong thang bậc nào. Bạn làm ở cơ quan nào thì ăn lương theo chức nghiệp tương đương cơ quan đó. Có thầy giáo, giáo sư dạy vẽ và còn lại là cán bộ mỹ thuật. Những họa sĩ tự do không có lương, không đóng thuế, cũng như hoàn toàn bỏ tiền tự lo lấy nghề nghiệp của mình, nhưng khi từ bỏ công chức, thì nhiều người cảm thấy có vẻ là họa sĩ chuyên nghiệp hơn.
Khái niệm họa sĩ chuyên nghiệp ở VN cũng được hiểu một cách buồn cười: Ai học qua trường Mỹ thuật và vẽ thường xuyên thì coi là chuyên nghiệp. Ai tự học, dù có nổi danh đến mấy vẫn bị đố kỵ và coi là nghiệp dư. Là họa sĩ mà vẫn sính các danh hiệu giáo sư, tiến sĩ, chủ tịch hội, thư ký này nọ... Thực chất cho thấy càng nhiều chức vụ, họ càng ít và xa với sáng tác, càng nhiều học vị càng thấy họ mèng hơn. Làm tròn danh hiệu một họa sĩ thì chí ít phải có tranh để đời. Không có cái đó, ông ta chỉ là một thường nhân khéo tay hay mắt.
Ở nhiều nước phương Tây, khi nghệ thuật là một hoạt động thường nhật và đỉnh cao của tinh thần, được gọi là họa sĩ chuyên nghiệp không dễ gì. Anh ta phải chứng minh, bằng nghề nghiệp của mình đem lại thu nhập đều hàng tháng, ví dụ 3.000 Euro, và nhà nước sẽ tính thuế vào số tiền đó từ 30-40%, tùy theo. Như vậy tranh của anh ta mới được đem ra đấu giá, được sắp xếp thứ hạng trong xã hội, và được giảm giá nhiều hàng hóa phục vụ cho nghề nghiệp, và được nhận tài trợ lớn (nếu có thể). Một họa sỹ chỉ được bày tranh ở một, hai gallery mà thôi. Còn lại là nghiệp dư không tính đến, như cầu thủ chân đất đá cho vui mắt, mà không kiếm được đồng nào cả.
Quy luật này, về đại thể, không thể áp dụng cho các nước chậm và đang phát triển. Nhưng khi các nền văn hóa cần giao lưu, cần cọ xát thì nó nẩy sinh vấn đề. Các họa sỹ VN có thể bán tranh trong nước, nhưng khi ra nước ngoài, chủ yếu chỉ được nhìn nhận trên phương diện trao đổi văn hóa, và với các gallery tầm thấp, chứ không tài nào có thứ bậc gì trong nghệ thuật phương Tây. Khi mở cửa, văn hóa nghệ thuật có vẻ là lĩnh vực đi đầu, tạo ra nhiều mối quan hệ song phương và đa phương, nhưng dần dà, dường như chỉ có thể làm ăn kinh tế, đôi bên cùng có lợi, còn văn hóa nghệ thuật thì mọi nẻo đường đi đến sân chơi đỉnh cao đều bị bịt chặt.
Thời bao cấp, nhà nước thông qua hội đoàn cấp vật liệu, lo trưng bày triển lãm, sau đó bảo tàng chọn mua. Nghệ sĩ được bao cấp toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần trong một quy trình khép kín. Khi sự bao cấp chấm dứt, thói quen này vẫn tồn tại. ở nhiều địa phương, họa sĩ vẫn chờ đợi được cấp vật liệu thì vẽ, không thì thôi.
Ở Hà Nội, có khá hơn, nhưng không ít họa sĩ chẳng biết vẽ gì, luôn đòi Hội phải định hướng sáng tác. Lớp họa sĩ trẻ không qua chiến tranh, nếm trải chút ít khó khăn cuối thời bao cấp, tỏ ra thờ ơ với những điều mà những người đi trước quan tâm. Đề tài chiến tranh cách mạng không mấy thu hút họ. Tự lo học hành, kiếm việc ra trường, rồi tự lo triển lãm, bán tranh, cũng như tìm kiếm quan hệ với hoạt động nghệ thuật ngoài nước.
Cái mới tỏ ra quan trọng hơn cái đẹp. Gây sốc để được chú ý. Theo đuổi những hình thức tân kỳ, và tự coi mình là nghệ sỹ tiền phong, tất nhiên không tiến đến chỗ tham nhũng. Song cái thời phấn khởi tranh bán chạy như tôm tươi đã qua, nếu không muốn suy đồi bởi thương mại hóa, chỉ còn cách lao vào hoặc Pop Art chính trị, hoặc là Sắp đặt và Trình diễn, và tìm kiếm tài trợ ít ỏi từ các quỹ văn hóa nước ngoài.
Ở phương Tây, quý nhất là họa sĩ tự học, thứ đến là họa sĩ học từ một bậc thầy, hạng bét là họa sĩ học tại trường. Picasso nói rằng Trường Mỹ thuật Paris đã đẽo ra những đôi guốc giống nhau, nhưng không đi được. Người tự học đáng quý vì họ thực sự có nhu cầu thôi thúc nội tại, không chờ đến ai dạy mình. Và thầy giỏi dễ dậy ra trò giỏi. Những sinh viên ra trường lại cần có cơ chế đỡ đầu mới có thể gia nhập hoạt động nghệ thuật xã hội. Ví dụ hàng năm có 25 họa sĩ tốt nghiệp. Người ta giao tiền cho năm nhà phê bình, mỗi người phụ trách năm họa sĩ, cho họ tiền và dạy bảo họ về ý tưởng nghệ thuật.
Sau vài năm, thì tổ chức triển lãm và lọc ra vài người, gọi là có tài năng, đưa vào cơ chế chuyên nghiệp, bắt đầu từ những thang thấp nhất của hệ giá cả. Số còn lại đành tìm những công việc khác như quảng cáo, dạy học, trang trí thiết kế. Tài năng không phát triển theo quy luật nào. Có người bắt đầu vụt sáng, sau lại lụi nhanh, có người quá lứa mới bộc lộ, vậy vẫn cần theo dõi để khỏi bỏ sót. Khi họ sáng tác cần có các công ty kinh doanh bảo trợ, ngược lại, nghệ sĩ giúp các công ty giáo dục văn hóa nghệ thuật cho công nhân. Nhà nước sẽ bớt thuế và ưu tiên thị phần cho những công ty giúp đỡ lớn cho nghệ thuật.
Trong hàng vạn người mới có một người biết vẽ. Trong hàng vạn họa sĩ mới có một danh họa. Do vậy họa sĩ không phải là con người phổ biến. Phê bình và Gallery sẽ tách họ ra khỏi kinh doanh, để tránh sự thu hút của thị trường. Sau khi họa sĩ chết, người ta sẽ mua lại xưởng vẽ và làm địa chỉ văn hóa cho địa phương. Chỉ có một hệ thống tích cực như vậy, xã hội mới có được hiền tài và phát triển văn hóa.
--------------
Nguồn "Mỹ thuật Hải Phòng"
Tìm lại tên cho gốm
Vân Anh
Đó là câu chuyện của những người trẻ đang miệt mài gây dựng lại nghề gốm ở làng gốm Dưỡng Động, xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Trải qua bao biến cố, vùng đất từng một thời vang danh với nghề gốm truyền thống này đã có lúc đứng bên bờ vực bị thất truyền và xóa sổ hoàn toàn. Nhưng với mong ước làm hồi sinh lại một làng nghề, họ đã làm nên một bức tranh gốm và câu chuyện mang tên Vũ Mạnh Huy và Nguyễn Viết Thắng.
Họa sĩ điêu khắc Nguyễn Viết Thắng
Từ xa xưa, vùng đất bãi nằm ven con sông Giá - một chi lưu đổ ra cửa Bạch Đằng đã được thiên nhiên ban tặng chất đất dẻo quánh có cái tên rất gợi là “trúc thôn hoa đào” - loại đất chỉ có thể lấy được ở các “đượng”, tức các cồn nổi giữa dòng sông Giá, có thể tạo màu tự nhiên mà không cần pha trộn. Từ nguồn đất này, người làng Dưỡng Động vốn khéo tay, hay lam hay làm đã tạo dựng nên nghề làm gốm truyền từ đời này sang đời khác. Theo lời của một số bậc cao niên sành chơi đồ gốm cổ, hàng trăm năm trước, thương hiệu gốm Dưỡng Động nổi tiếng không kém các làng nghề như Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương), Phù Lãng (Bắc Ninh)... Những nghệ nhân, thợ giỏi của làng ngày ấy đã tạo ra bộ ấm chén da Chu với màu men và kiểu dáng thanh nhã, tinh tế, càng ngắm càng cảm thấy ấm áp. Khi ấy, người người, nhà nhà làm không nghỉ tay, các lò nung chạy hết công suất mà vẫn không đủ đáp ứng những đơn đặt hàng trong nước. Thậm chí, gốm Dưỡng Động cũng đã xuống thuyền theo các lái buôn nước ngoài trong những hải trình dài về tới châu Âu hoặc vùng Đông Á.
Lớp trước truyền lớp sau, tên tuổi gốm sứ Dưỡng Động ngày càng được khẳng định. Khu vực làng gốm còn được đặt cho một cái tên khác cũng rất “gốm”: Xóm Lò! Người làng gốm tự hào với nghề, tự hào với chất lượng của từng sản phẩm mang xuất xứ quê mình. Trong chiến tranh, các nghệ nhân gốm đã cùng nhau chia sẻ nghề riêng, cùng thành lập Hợp tác xã (HTX) gốm sứ Minh Khai, tạo ra các sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao như đồ gốm, sứ gia dụng, gốm sứ trang trí và cả ống thoát nước phục vụ cho các công trình xây dựng.
Nghề gì rồi cũng có lúc hưng lúc mạt, gốm Dưỡng Động kém may nên không thoát khỏi quy luật ấy. Đầu những năm 1980, cũng giống như các làng nghề khác, gốm Dưỡng Động không địch nổi sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại đến từ thị trường Trung Quốc, sản phẩm ống nước cũng được thay thế bằng các nguyên liệu tiện dụng hơn, hoạt động của HTX Minh Khai cũng vì thế mà tan rã. Dân xóm Lò chẳng còn cách nào khác là bám vào mấy sào ruộng khoán ít ỏi, hoặc bỏ lên thành phố làm thuê hoặc sang xã bạn làm nghề thổ mộc.
Là một người được sinh ra và lớn lên cùng gốm, khi đôi bàn tay biết nhào đất, tạo hình thì cũng là lúc những lò gốm cuối cùng dần bị phá bỏ, Vũ Mạnh Huy luôn đau đáu một quyết tâm từng bước hồi sinh nghề gốm truyền thống. Sinh năm 1972, nhưng người nghệ nhân trẻ này đã có 17 năm lăn lộn tại nhiều làng nghề gốm sứ nổi tiếng như Bát Tràng, Phù Lãng để cùng trao đổi kinh nghiệm với bè bạn và học hỏi thêm những phương pháp mới. Năm 2003, anh trở về quê hương, bắt đầu gây dựng cơ sở sản xuất gốm, sứ tại địa phương theo mô hình gia đình. Thời gian đầu, anh mượn lại cơ sở vật chất của HTX Minh Khai, mua sắm đồ nghề, xây dựng lò nung gốm sứ theo phương pháp thủ công, mời những người có tay nghề, còn tâm huyết với nghề hợp tác cùng phát triển sản xuất, rồi dần dần xây dựng một hệ thống nhà xưởng của riêng mình. Tuy mô hình sản xuất chưa thật sự đồ sộ nhưng với hơn 10 người thợ lành nghề, cách phân công công việc, bố trí lịch trình sản xuất hợp lý nên xưởng gốm nhỏ này vẫn đạt được hiệu suất kinh doanh khá tốt, tạo thu nhập ổn định cho người lao động. Mặt hàng chính của xưởng hiện nay chủ yếu là những sản phẩm cổ truyền phục vụ nhu cầu chơi sinh vật cảnh, đồ thờ cúng và trang trí nội ngoại thất, cung cấp cho thị trường Hải Phòng và các tỉnh lân cận.
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, ước mơ tìm lại tên cho gốm cổ Dưỡng Động của Vũ Mạnh Huy được nhiều bạn bè ủng hộ. Một trong số đó có họa sỹ điêu khắc Nguyễn Viết Thắng, người đã “chung lưng đấu cật” cùng anh Huy nhiều năm trên con đường khôi phục lại nghề cũ. Là một nghệ sỹ có nhiều năm làm việc cho các công ty gốm sứ mỹ nghệ có tiếng, chuyên sáng chế mẫu mã, sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của bạn hàng nước ngoài. Có thể nói, thế mạnh của Nguyễn Viết Thắng là mỗi sản phẩm anh tạo ra đều có đường nét riêng, hình thái điêu khắc cũng tạo được nhiều dấu ấn khác biệt. Hiện, người họa sỹ trẻ này cũng đang ấp ủ dự định cùng với nghệ nhân Vũ Mạnh Huy tạo được một bộ sản phẩm độc đáo mang thương hiệu gốm Dưỡng Động, Minh Tân, tạo nên niềm tự hào về gốm truyền thống của Hải Phòng.
Trò chuyện với họ, tôi đã quan sát rất kỹ để hiểu được nguyên nhân nào đã gắn kết hai tính cách, hai con người này lại với nhau. Nếu Vũ Mạnh Huy nhẹ nhàng, rủ rỉ và mười phần lành lẽ, mộc mạc như đất làng thì Nguyễn Viết Thắng hào sảng tư chất nghệ sỹ, tài hoa với nhiều ý tưởng làm tranh gốm và đồ gốm tinh xảo. Có lẽ niềm đam mê gốm cổ, mong muốn chấn hưng phong trào trang trí gốm đúng chất Việt, không bị ảnh hưởng, lai căng nước ngoài đã là thứ keo bền chặt nhất gắn kết họ.
Vũ Mạnh Huy say sưa chia sẻ với tôi về những điều mà anh đã vỡ ra được trong quá trình làm nghề. Dẫu đã nhiều lần đến thăm các làng gốm nổi tiếng từ Nam tới Bắc, nhưng hôm nay, tôi mới thực sự có dịp được nghe tường tận quy trình làm gốm, mới thấy được để có một chiếc bát, một chén trà hay một lọ hoa, người thợ gốm đã vắt sức mình ra với đất. Từ các “đượng” nổi trên sông Giá, người ta phải đào sâu 1,5m để bỏ đi lớp đất mặt mới có thể lấy được tầng đất phù sa lốm đốm trắng đỏ, gọi là “trúc thôn hoa đào”. Đất này được cho qua máy đùn để loại sỏi nhỏ rồi phơi khô. Khi đất đã tơi thì phải đập nhỏ cho vào ngâm ủ đủ thời gian để đất tan, rồi trang đều cho đất đủ loãng để có thể cho vào lọc. Sau khi lọc kỹ, một lần nữa đất được để lắng rồi lên quả đất, vò kỹ để đẩy không khí ra. Sau từng ấy công đoạn, đất lúc này mới sẵn sàng lên bàn xoay.
Thời gian đầu lò gốm của anh Huy chủ yếu là làm thủ công, sử dụng lò nung gốm, sứ bằng than, củi..., dần dần, một số công đoạn được thay thế, hỗ trợ bằng máy móc như máy nghiền đất, nghiền men, nghiền màu hay bàn tiện máy... và xây dựng lò nung bằng ga để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Song, họa sỹ Nguyễn Viết Thắng cũng cho chúng tôi biết thêm rằng, các anh luôn tự nhắc nhở bản thân không được quá lạm dụng vào công nghệ mới mà chủ yếu là phát huy tính thủ công cuả nghề truyền thống. Có như vậy, các sản phẩm sẽ không hoàn toàn giống nhau mà lại giữ được hồn gốm Việt, mộc mạc, tinh tế, có chiều sâu và càng nhìn ngắm lại càng thấy ấm áp, gần gũi.
Cơ sở sản xuất của nghệ nhân Vũ Mạnh Huy hiện quy tụ được khá đông những người thợ có tay nghề và thực sự tâm huyết, đam mê làm gốm. Trước khi chúng tôi ra về, anh Vũ Lê Huy, một nghệ sĩ gốm và sơn mài vội bước ra từ khu chế tác. Khuôn mặt còn lấm màu vẽ, đôi tay còn vương bùn đất nhưng ánh mắt thật sáng và nụ cười đầy tự tin: “Nhờ nhà báo viết giúp rằng, chúng tôi quyết tâm gây dựng lại thương hiệu gốm Minh Tân, để bất cứ ai cầm sản phẩm của chúng tôi lên sẽ phải bật thốt rằng: Ồ, Hải Phòng cũng có những đồ gốm tinh xảo và đẹp thế này sao!”.
Từ câu nói của người thợ gốm ấy, tôi biết các anh đã gắn bó với nhau thành một đại gia đình. Dẫu ở nơi này, thu nhập của họ còn khiêm tốn nhưng họ có chung một chí hướng, một tình yêu, một niềm tự hào về nghề truyền thống quê hương. Chỉ cần có vậy thôi, cũng đã đủ để đặt niềm tin rằng, họ sẽ thành công.
-------------
(Bài đăng trên báo Biên Phòng 16/02/2012)
CÁI ĐẸP CÓ TIÊU CHUẨN KHÔNG?
Trịnh Cung
Cuộc đối thoại giữa hoạ sĩ Lê Thiết Cương và hoạ sĩ Lê Quảng Hà, ai đúng ai sai, chúng ta không khó để nhận ra. Tuy nhiên, sự việc cụ thể này xảy ra quả tình là một minh hoạ cho cái thực trạng thiếu thốn kiến thức và yếu kém về lý thuyết mỹ thuật của không ít người trong giới hoạ sĩ Việt Nam, mà hệ quả là sự mất căn bản trong việc thẩm định giá trị tác phẩm.
Để đóng góp vào cuộc đối thoại thú vị này, tác giả xin lạm bàn quanh vấn đề “Cái đẹp có tiêu chuẩn không?”
Câu chuyện thứ nhất
Trong một buổi chiều ngồi ở càfê vỉa hè Highlands trên đường Đồng Khởi cùng với vài anh bạn, thấy một “chân dài” thanh mảnh trong một bộ áo váy ôm sát người hở nửa phần lưng rất bắt mắt kiêu kỳ lướt ngang qua, tôi buột miệng thốt lên: “Wow! Đẹp quá!”
“Ối giời ơi! Khẳng khiu như một cái que biết đi thế mà cậu cho là đẹp ấy à?” Anh bạn tôi, một nhà văn, giãy nảy.
Câu chuyện thứ hai
Trong một cuộc triển lãm tranh quốc tế tại một thành phố nọ, các tác phẩm được giải cao nhất đều là những tranh vẽ theo lối trừu tượng, nhiều người đi xem triển lãm đã tỏ ra bất bình với kết quả ấy, họ chỉ vào vài tác phẩm vẽ theo lối tả thực và cự nự: “Vẽ giống y như thật thế này mà sao không được trao huy chương vàng thế? Thật là bất công!”
Câu chuyện thứ ba
Trong một cuộc thi Tiếng Hát Truyền Hình gần đây, trước đêm chung kết, tôi nhận được một cuộc gọi của anh bạn Việt kiều: “Cậu chơi thân với TL, LA, hay NN,... nói hộ tôi, xếp cho Th vào giải chính, càng cao càng hay, tôi hứa lo đủ. Tôi gọi hoài mà LA không bắt máy...”. Và anh bạn say sưa “bài ca ngợi” bất tận về cô Th tuyệt vời và đầy triển vọng nào đó — một người sinh ra chỉ để làm ca sĩ chứ không thể là cái gì khác. Tôi vội mở tv để xem thực hư thế nào thì thấy cô Th mà anh bạn nói đến quả là một mỹ nhân rất bốc lửa, nhưng giọng hát thì... chỉ đáng làm ca sĩ karaoke mà thôi.
Ba câu chuyện trên có thể đã nói lên sự phức tạp của vấn đề thẩm mỹ trong sinh hoạt văn nghệ và trong đời sống hằng ngày. Thế nào thì được gọi là một cô gái đẹp, một tác phẩm mỹ thuật có giá trị, hay một giọng hát sáng giá? Lẽ dĩ nhiên đây là một công việc khó khăn và không phải ai cũng có khả năng đưa ra sự chọn lựa xác đáng, thường người ta phải dựa vào kết quả bình chọn của một tập thể những nhà chuyên môn có nhiều kiến thức về nghệ thuật được uỷ nhiệm làm giám khảo.
Tuy thế, không phải tất cả các kết quả ấy đều được dư luận đồng tình. Ở đây chúng ta không bàn đến những kết quả bất thường vì những lý do tiêu cực mang tính mua chuộc hoặc thương mại. Trình độ kiến thức và thị hiếu không cùng một đẳng cấp thường là nguyên nhân chính của những kết quả không thuyết phục. Và để biện minh cho những bất đồng này, nhiều người thường đem thành ngữ “chín người mười ý” ra để khoả lấp cho xong chuyện.
Thực ra, cái đẹp có những tiêu chuẩn riêng cho từng sự vật và sự việc, và nó thay đổi theo sự phát triển của từng thời kỳ văn hoá và văn minh của loài người. Từng thời kỳ một có thể kéo dài qua nhiều thế kỷ hoặc chỉ từng thế kỷ, các khái niệm về cái đẹp nối tiếp nhau thay đổi bởi sự đòi hỏi của cuộc sống con người, mặc dù không thiếu những tranh cãi thường xuyên và liên tục về những tiêu chuẩn của cái đẹp. Các triết gia từ Socrates xa xưa cho đến Hegel đã nối tiếp nhau đi tìm một định nghĩa thống nhất cho cái đẹp phi vật chất (la beauté immatérielle) và coi việc nghiên cứu cái đẹp là một khát vọng vĩnh cửu. Và mỹ học đã trở thành một chuỗi hạt ngọc về tư tưởng quanh cái đẹp không ngừng được bổ sung và tiếp tục suy nghiệm theo mỗi bước đi của thời đại. Cái đẹp ở trong vô số dạng thức khác nhau như văn học, âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, kiến trúc, thời trang, thân xác, ngoại cảnh, nội thất; và bao trùm lên hết thảy là vẻ đẹp phi vật chất, như Socrates đã nói: “Nhìn là giác quan tinh vi nhất của cơ thể, đồng thời cái đẹp cũng đã nhận từ sự phân chia của tạo hóa cái phần đáng yêu nhất.”
Tựu trung, nói theo cách đơn giản hơn, để cảm nhận được cái đẹp, chúng ta phải nhờ vào hai điều kiện: 1. cảm tính; 2. kiến thức. Những người không có điều kiện học đầy đủ thường chọn lựa vẻ đẹp theo bản năng, cảm tính của mình. Nhưng sự cảm thụ cái đẹp trong các công trình nghệ thuật lại không thể dễ dàng với tầng lớp công chúng bình dân vì họ ít được tiếp cận và thiếu cập nhật với các thông tin về những trào lưu sáng tạo mới xuất hiện. Ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ chúng ta cũng không có nhiều người thường xuyên tiếp xúc với nghệ thuật mới và các thông tin về hoạt động sáng tạo mỹ thuật của các cộng đồng khác trên thế giới, nên tình trạng dễ bị tụt hậu và bảo thủ là điều không tránh khỏi.
Mỗi thời đại, riêng đối với mỹ thuật, các tiêu chuẩn của cái đẹp trước hết được định ra bởi những nhà sáng tạo. Các hoạ sĩ cổ điển thời tiền phục hưng cho đến các hoạ sĩ thời tân cổ điển kéo dài từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 đã thiết lập và giữ vững các tiêu chuẩn của cái đẹp dựa vào sự cân đối, hài hoà, nhịp nhàng và chặt chẽ về bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng bằng một bút pháp tinh tế và nắn nót. Đầu thế kỷ 20, các nhà tiền phong thời hiện đại đã phủ lên những tiêu chuẩn ấy một tấm vải liệm bằng những khái niệm hoàn toàn mới về cái đẹp của những tác phẩm mỹ thuật. Những sự phá vỡ phép cân đối, luật viễn cận, không gian hai chiều và tình hoà hợp của màu, khởi từ trường phái Ấn tượng đến Trừu tượng đã làm thay đổi lớn lao các tiêu chuẩn của cái đẹp trong tác phẩm mỹ thuật.
Một ví dụ rất cụ thể cho sự thay đổi mau chóng quan niệm về cái đẹp hình tượng con người: chỉ trong không hơn ba thập niên đầu của thế kỷ 20, từ mẫu mực vẻ đẹp đẫy đà phồn thực của Auguste Renoir chuyển sang hình mẫu dài và buồn của Modigliani, và lại được Francis Bacon lập ra một hình mẫu con người tật nguyền, biến dạng và cực kỳ cô đơn. Các nhà mỹ học đã gọi đây là thời đại của “thẩm mỹ chông chênh” (esthétique de choc). Thẩm mỹ chông chênh này đã tồn tại không quá 50 năm ở phương Tây.
Mỹ học đương đại đã trở thành cơn lốc ngày càng mạnh sau khi Marcel Duchamp lập ra mỹ thuật ý niệm với “Cái Bồn Tiểu“ (1917), và ngày nay mỹ thuật ý niệm không chỉ diễn ra ở các nước Âu Mỹ mà đang tràn qua các lục địa còn lại.
Triết học giải cấu — déconstruction (có nơi gọi là huỷ cấu trúc) của Jacques Derrida — có lẽ đã nhìn nhận cần phải phá vỡ những tiêu chuẩn cái đẹp đã được thiết lập bởi chủ nghĩa hiện đại của những nhà tiền phong như Tristan Tzara, Jean Arp, Max Ernst, Marcel Duchamp, Paul Klee,... và mở ra một bầu trời mỹ học đương đại cho thời đại mỹ thuật “bây giờ” (Art Now).
Rõ ràng cái đẹp luôn luôn có những tiêu chuẩn khác nhau của nó, tuỳ vào từng thời đại mà nó được tạo ra. Cái đẹp là một khái niệm mở, tạo ra những vẻ đẹp biến hoá không ngừng trong nghệ thuật nói riêng và trong đời sống nói chung. Vì thế, sự bắt chước rập khuôn, tuân theo những nguyên tắc của người đi trước để làm công việc sáng tạo và thẩm định giá trị tác phẩm hôm nay, là dấu hiệu tiêu vong của nghệ thuật.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








