Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết của Tất Hanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết của Tất Hanh. Hiển thị tất cả bài đăng

NGUYỄN LÂM CẨN

Nguyễn Lâm Cần là nhà giáo - hội viên Hội nhà văn Hải Phòng ,đã nghỉ hưu hiện đang sống và viết ở Hà Nội. 
Thơ anh đằm sâu cảm xúc ,hoài cổ ,đầy trách nhiệm công dân mà không kém phần tài hoa ở sự tìm tòi câu chữ...
Nhân dịp năm mới, xin gửi tới bạn đọc một chùm thơ của anh .








MẮT NGƯỜI QUAN HỌ

Mắt ai soi đáy Sông Cầu
Chết chim vỗ cánh về đâu dưới trời
Này xin giọt mắt đừng rơi
Để ta còn hát “Người ơi đừng về…!”

Sảy sàng cái mẩn cái mê
Xin đừng lọt xuống lời thề cỏ may
Xin đừng tỉnh lúc còn say
Xin đừng lạc giọng ngón tay nhị hồ

Dốc nào quán sỏi mấp mô
Thì xin đứng đợi nghiêng ô che đầu
Thì xin ngả nón mời trầu
Cái duyên thắm đến bạc đầu còn duyên

Nhóng nha nhóng nhảy thuyền quyên
Kết câu quan họ buộc thuyền vào nhau
Chờ chi những đến mai sau
Biết đâu chỉ rối mà đau thắt lòng

Chạm vào một dải sông trong
Lông mày rớt xuống bẻ cong con sào
Níu tay í ới lời trao
Mắt người quan họ soi vào ngẩn ngơ
Hà Nội 13-02-101


BÂNG KHUÂNG

Người tiễn người đi trong mộng ảo
Nào đã hoàng hôn buổi xế chiều
Chén có nghiêng đâu mà lảo đảo
Nhìn ai cũng mở hội tình yêu

Người như tranh vẽ không màu mực
Một mảnh toan căng giữa cõi trần
Tạo hóa vì ai mà chăm chút
Để chùm hoa nở giữa sắc xuân

Bếp lòng khói tỏa không lên khói
Mây chẳng thành mây lửng giữa giời
Một ánh màu ai bừng chói lọi
Và rồi hum hút phía chơi vơi

Về chốn không ai mùa thu trước
Nhặt lấy hồn sương đống lá vàng
Cỏ lưu gót lại trong chân bước
Xuân nhớ bâng khuâng bóng cuối làng.
HN 01-3-2011



TUỔI SÁU MƯƠI

Sáu mươi ai bảo là già
Mắt long lanh giọt ái
Môi chót mọng như hoa
Thơm hơn mùa chín trái

Sáu mươi đi qua để lại
Sợi xuân rơi xuống xanh màu
Ngu ngơ có người nhặt lấy
Lẹm vào bén tựa dao cau

Xin đừng ủ hạt kiếp sau
Gieo lúa mọc lên năn lác
Bát cơm trắng mùa nước bạc
Đồng ai trống trếnh gió lùa

Xin đừng tụng kinh xóm chùa
Cà sa đánh rơi bến giác
Đường trần quay về lưu lạc
Bao giờ hai nửa gặp nhau ?

Sáu mươi nồng đượm sắc màu
Hồn nhiên lại thời thiếu nữ
Xui người uống chén khổ đau
Đêm cạn cho ngày lử đử

NA 13-3-2011
----------------------------------------
266 Đản dị, Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội
*Đạt giả 3 lục bát -Thi thơ báo NCT.

Khuynh hướng siêu thực và ảnh hưởng của nó trong sáng tạo văn học nghệ thuật

Nguyễn Tất Hanh

Lâu nay chúng ta hay bàn luận về tính siêu thực và sự ảnh hưởng của nó trong sáng tác, một số người dùng quan niệm đó như chiếc “đũa thần” biến hoá và coi nó như cứu cánh cho hoạt động sáng tạo của mình. Không có siêu thực thì nghệ thuật và văn chương sẽ chết ?
Sẽ là như vậy chăng ?
Lục lọi trong trí nhớ những gì mình đã đọc, đã nghe, đã thấy và quay trở về tìm tòi ở những định nghĩa về siêu thực (chủ nghĩa Siêu thực) do nhà thơ Pháp Andr Bretton khởi xướng và viết tuyên ngôn cho nó vào năm 1924 thì thấy Chủ nghĩa Siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong giấc mơ. Nó bắt đầu được khởi xướng từ thơ, sau đó lan sang hội họa, tiểu thuyết rồi điện ảnh … nhưng thực ra thuật ngữ “siêu thực” (Surrélisme) được nhà thơ GuilloumeApollinaire dùng trong tác phẩm của mình vào năm 1917, sau tuyên ngôn 1924 về Chủ nghĩa Siêu thực thì thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi.

Cầu Long Biên - Sơn dầu của Mai Duy Minh

Vậy siêu thực là gì? Cũng có tài liệu giải thích siêu thực là sự định hướng đến một hiện thực cao hơn hiện thực tầm thường “siêu thực phản kháng lại sự trì trệ của xã hội” hoặc “Siêu thực – nỗi sợ hãi của con người xuất phát từ tiềm thức”. Nó “là khuynh hướng bắt nguồn từ Chủ nghĩa tượng trưng và Phân tâm học (Prơt) đặt phi lý tính lên trên lý tính. Theo chủ trương, khuynh hướng này nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội. Thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên không bị gò bó bởi lý trí, lôgic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo… Sáng tác của những nghệ sĩ siêu thực ghi chép lại tất cả những trạng thái, tâm lý luôn chuyển biến trong tiềm thức (dạng ký ức), không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai.
                                                                                                           
Với trường phái nghệ thuật này những chủ thể rất bình dị được đặt trong một phông màu hoặc bí ẩn, hoặc hùng vĩ, khiến cho tác phẩm mang một sức sống mới, ý nghĩa mới như tồn tại trong mơ, cùng những sự vật, hiện thực được mô tả bằng trạng thái không thực” (theo Bách khoa tri thức).
Vậy là đã rõ, thực ra siêu thực không phải là cái không thể hiểu được mà nó luôn tồn tại trong trí tưởng tượng của mỗi người nhưng từ xa xưa đã không ai nắm bắt và đặt tên cho nó, do đó nó không có cơ hội để trở thành một trào lưu hay xu hướng trong nghệ thuật…
Những tác phẩm nghệ thuật xuất hiện từ đời sống của người dân Việt, người châu Á xưa thể hiện rõ điều này, những sản phẩm của trí tưởng tượng được biểu hiện trong hình tượng nghệ thuật và được nâng lên thành biểu tượng như hình ảnh con Rồng . Dù chúng ta có tranh luận thế nào thì con Rồng vẫn là sản phẩm của tư duy siêu thực, nó được kết hợp hài hoà giữa rắn, cá và chim ưng (?) có thể trườn, bò, bay trên trời và lặn dưới nước. Trong văn học sử của người Việt còn lưu dấu ấn tư duy siêu thực trong những truyện dã sử như Lạc Long Quân và Âu Cơ ,Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, trong thơ văn cổ cũng phảng phất đây đó cách nhìn siêu thực:
Mai bạc lạnh quen nhiều tháng trước
Cúc vàng thơm đổi mấy phen hoa
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
hoặc:
Gió đập tường cao lưng gió phẳng
Trăm dòm cửa sổ mặt trăng vuông
(Không rõ tác giả)
hoặc nữa:
Vàng rụng giếng ngô sa lá gió
Bạc suy dậu cúc nảy chồi sương
(Tương an Quận vương - thời Tự Đức)
Và đôi khi nó tồn tại trong một số bài đồng dao của trẻ con ở dạng vô thức
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa                                                                                              
Con ngựa chết trương
Ma vương Ngũ đế…

Thực ra siêu thực là sản phẩm của trí tưởng tượng được tái tạo thông qua cái nhìn vào tấm gương biến dạng lấy ra từ ký ức, nó là hoài vọng sáng tạo của con người khi đã quá nhàm chán với cái cũ mòn, nó đã và có thể sẽ là cuộc cách mạng lớn trong sáng tạo nghệ thuật.
Ngày nay Chủ nghĩa Siêu thực với tuyên ngôn vang động một thời đang đi vào dĩ vãng nhưng âm hưởng của nó đã làm nên hàng loạt sự cách tân táo bạo trong các sáng tạo văn học nghệ thuật ở thế giới cũng như ở Việt Nam, đặc biệt là  ở một số nước có nền nghệ thuật phát triển, thể hiện rõ nhất trong tranh siêu thực của SanvadoDali và một số những hoạ sĩ Châu Âu , trong tiểu thuyết và thơ của một số tác giả hiện đại trên thế giới , đặc biệt là điện ảnh với những phim kinh dị, viễn tưởng ở một số nước có nền điện ảnh phát triển .
Vậy ở Việt Nam sự ảnh hưởng ấy như thế nào? Ai là người đưa Chủ nghĩa Siêu thực vào Việt Nam? Đây là một khái niệm dễ gây nhầm lẫn bởi tính siêu thực và Chủ nghĩa Siêu thực là hai phạm trù khác nhau, mặc dù  đặc điểm của chúng giống nhau. Chủ nghĩa Siêu thực có tuyên ngôn hẳn hoi, còn tính siêu thực trong những tác phẩm trước nó không có tuyên ngôn. Bà Nữ Oa, thần Atlat, Ngọc hoàng Thượng đế, những nhân vật của Kinh thánh , của thần thoại Hy Lạp, tranh tượng trong các lăng mộ vua chúa , trong truyện Liêu Trai chí dị của Trung Hoa , hình ảnh bà Triệu Ẩu vú vắt sau vai trong Việt điện u linh ít nhiều là sản phẩm của tư duy siêu thực chăng? Vậy nó cũng phảng phất trong thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên (Điêu tàn). Trong thơ Đinh Hùng ,Trần Dần,Lê Đạt, Hoàng Cầm …và gần đây nữa, trong thơ Thanh Thảo, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Thận Nhiên, Mai Văn Phấn, Trần Tiến Dũng, Vương Huy, Phan Huyền Thư, Phan Nhiên Hạo…Hoặc trong tranh nghệ thuật của họa sĩ trẻ Mai Duy Minh và một số hoạ sĩ thời kỳ đổi mới v.v..
Những quan niệm khi thưởng thức những sản phẩm nghệ thuật như tranh phải dễ hiểu ,thơ phải là thơ có tứ hay trong thơ phải có một câu chuyện xem ra đã lỗi thời . Không hiểu được thì phải cảm , đó là một quan niệm mới mẻ ở Việt Nam nhưng không xa lạ gì với thế giới , tốc độ phát triển của xã hội không cho phép chúng ta níu giữ những quan niệm đã cũ vì những cái mới vẫn nảy sinh và trưởng thành buộc người đọc phải nâng tầm hiểu biết để nắm bắt những cái mới lạ và nhanh chóng tiếp cận để thích nghi với nó, đọc nó bằng óc phê phán để khỏi rơi vào tình trạng hoang mang lúng túng hoặc khen bừa theo những người khác.Tôi nhớ một câu nói nổi tiếng của danh họa SanvadoDali đại ý Tại sao người ta cứ bắt tôi phải giải thích tranh của tôi trong khi tôi cũng không hiểu, nói vậy nghĩa là ông đã cảnh báo chúng ta về cách nhìn khi ra tay sáng tạo hay khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật .
Vậy là đã rõ, Chủ nghĩa Siêu thực đã và đang tham gia cùng những trào lưu nghệ thuật khác để tạo một định hướng mới cho các tác giả hiện đại , nó mang một ý nghĩa tích cực trong xu thế hội nhập toàn cầu ở kỷ nguyên mới với sự bùng nổ của công nghệ thông tin , để rồi cú hích của Chủ nghĩa siêu thực với những dư chấn không nhỏ đã len vào tất cả các ngành nghệ thuật ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nó tạo ra một hiệu ứng mở với những quan niệm mới mẻ về một trong những hướng đi của các sáng tạo văn học nghệ thuật, nó nâng niu cái cảm và bỏ qua cái hiểu, chối bỏ sự kể tả (cái nhìn thấy) mà đi vào những vùng thẳm sâu của trực giác để mang về cho người thưởng thức “cách nhìn hiệu ứng” mới mẻ được chế biến từ cái nguyên gốc –cái cảm từ hiện thực. Vậy là có lý do khi những người cách tân nghệ thuật coi siêu thực là một trong những cứu cánh, bởi nghệ thuật luôn luôn chối bỏ sự sáo mòn, cái tuyệt vời của ngày hôm qua có thể chưa hẳn đã tồn tại cho đến mai sau, may chăng nó chỉ tồn tại ở trong văn học sử ở dạng nghiên cứu …

Nghệ thuật là vậy , nó luôn luôn đòi hỏi những thay đổi. Sự tươi mới trong tư duy sáng tạo là cực kỳ cần thiết, những giá trị lớn bao giờ cũng vẫy gọi ta, chờ đợi ta ở cuối mỗi chặng đường…/.

---------------------------------
Bài in trên tạp chí Thế giới Phụ nữ số Tết Nhâm Thìn

Một vài hình ảnh trong Đoàn văn nghệ sĩ lão thành của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam đến thăm Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hải Phòng



Ngày 23 -12 -2011 Đoàn văn nghệ sĩ lão thành của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tới thăm  ,trò chuyện ôn lại những kỷ niệm khó quên và trao đổi kinh nghiệm sáng tác , chụp ảnh chung với một số anh chị em văn nghệ sĩ của thành phố Hải Phòng

Nhà văn Đình Kính và nhà Biên kịch điện ảnh
 Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc

Nguyễn Thị Hoài Thanh


Chị là nhà thơ nữ duy nhất của giai đoạn chiến tranh chống Mỹ ở Hải Phòng ,nay chị đã ngoài 70 tuổi mà vẫn vào Nam ra Bắc như một kẻ lãng du để bầu bạn cùng mây nước gió trăng ...
Thơ của chị giản dị , đằm sâu những suy nghĩ mà vẫn giữ được sự hồn nhiên trong sáng để thỉnh thoảng găm vào lòng bạn đọc những câu thơ chói sáng .
 Hình như sự chân, mộc ấy làm cho người đọc luôn nhớ tới chị .
Xin giới thiệu một chùm thơ mới của chị nhân dịp lễ Giáng sinh .





Về tháng Chạp
Gửi anh trai

Tháng Chạp đựng em và anh
Anh ở đầu này heo heo gió mách
Em mãi cuối kia xa cách mà chi
Như ngày và đêm không hề kết nối
Như ánh trăng gần
đêm kề bên gối
Như vầng trăng xa chẳng tới được đâu anh …


Đất nơi này

Tặng Vũ Từ Trang

Đất nơi này chẳng tệ lắm đâu
Anh có về chơi xin đừng ngại
Gió thì ở ra màu tê tái
Nước như nước mắt mặn đầu môi
Dòng Tam bạc vắng chân trời
Thế thì Nam Bắc ngược xuôi vì dòng .


Dưới giàn thiên lý

Ta chưa kịp trẻ
Mà sao đã già
Thiên lý ơi !
Mình có dư ngàn cái lý
Ta chỉ còn một điều vô lý
Làm điểm tựa mà yêu

Tản mạn từ vách đảo Cát Bà


Phong cảnh Cát Bà - Ảnh Tất Hanh

Khi không thể định tâm cho một bài thơ, tôi thấy mình thật nhỏ nhoi vô nghĩa vì trước sự hoàn chỉnh của thiên nhiên mà cao đàm khoát luận về những thẳm sâu của trời nước và núi đá sừng sững kia thì ý tưởng bỗng thừa ra bởi thiếu đi sự kính trọng thiên nhiên mơ mộng.
Núi – cuốn sách của trời đã ngủ vùi hàng tỷ năm mà chắc gì ai đọc, vậy thì đám rêu và bài thơ kia có khác gì nhau, bởi núi thì trường tồn, còn đám rêu và  bài thơ vẫn phụ thuộc thời gian. Thiên nan vạn nan may có đọng một chút gì bất tử

Điềm tĩnh và uy nghi là núi, bí mật mà bao dung cũng là núi. Với biển, núi là bạn tri âm mà núi vẫn bị sóng mài mòn, đánh ngã đấy thôi.

Khi con người xẻ núi ra làm thành những con đường… và những con đường được làm ra đôi khi cũng chỉ để vào thăm núi- mặc lòng, núi biết- đớn đau và hạnh phúc, độc ác và nhân từ, vô tâm và chăm lo thường sát cánh bên nhau để con người làm nên mọi chuyện.

Thuận thiên mà nghịch lý- quy luật của loại trừ sinh diệt.

Tôi vẫn muốn học lại bài học vỡ lòng mà thiên nhiên ngày ngày dạy bảo, mong biết cùng muôn loài chung sống bình yên.
-------------
Tất Hanh - Trại ST Cát Bà

KHI ĐÀN ONG BAY ĐI MỘT TỐ CHẤT HỒN NHIÊN VÀ TÂM TRẠNG

NGUYỄN TẤT HANH

Cầm tập thơ dày không quá 100 trang của Trần Kim Anh gửi tặng. Đọc những câu đầu tiên phảng phất hồn vía cho cả tập: Rồi một ngày lặng/ Trống vắng chui vào sáp ong ở trọ/ Xôn xao cánh mỏng đâu rồi/ Rồi một ngày ngọt ngào vỗ cánh những đời người/ Nào đã ngọt mòng/ Nào ngọt đã mênh mông/ Những giọt mật đã trở về cõi mọng ...
 Bất ngờ là: Tôi không thấy nhàm chán bởi độ chai lỳ trong cảm xúc hay quen thuộc về cách dùng từ .
Toàn bộ 45 bài trong tập là 45 mảnh gép tâm hồn. Ở Trần Kim Anh chúng đều hoàn chỉnh, ít thấy sự non tay trong cách biểu đạt hoặc gượng ép  trong cảm xúc .
 Lập tứ bằng thói quen tư duy hình tượng , lúc nắm giữ, lúc buông lơi chị đã đưa người đọc vào trong thế giới mới lạ của thơ chị bằng cảm xúc chân thành. Sự hồn nhiên trong sáng nơi chị dường như đã có ý thức chu đáo về chuyến đi nhọc nhằn của số phận để người viết, người đọc cùng đồng cảm . Chị luôn có ý thức để người đọc đỡ mệt khi phải nhìn thấy những giọt nước mắt vô tình hay cố ý gieo vào hồn vía họ - kể cả những khi chị thốt lên đau đớn: Ối a rát ruột đói tình/ Ối ôi đứng phía một mình lạnh lưng.  Ở câu thơ trên cái bi đã trở thành cái hài, tác giả đã dùng chính cơn khát để hóa giải cơn khát. Người đọc hẳn sẽ mỉm cười khi sự chân thành được nâng lên đỉnh điểm .Từ một cách nhìn mới mẻ, bất ngờ: Nắng lưng ong / Phứt tung khuy áo / Tự tin khoe Nam bộ / Chiều lùi vào sóng / Gió nương biển bồng bềnh trôi... Hoặc với sự trong trẻo ở thể đồng dao trong bài Cúc Phương  Còn anh đêm em / Mê say trăng ảo / Ong rừng huyên náo / Gió gù chim xanh / Còn em đêm anh / Ta to rừng nhỏ / Mang theo hương cỏ / mình vào hoang sơ , hoặc nữa Ngửa mặt ăn xin / Chân khôn tay dại / Vo tròn đêm lại / Dạ dày khói cay / Tay mù đường tay / Cầm ngày ta hỏi ...

Hồn nhiên gần với cái thiện hoặc chính hồn nhiên mang thiện tính. Đánh mất sự hồn nhiên con người dễ trở thành hoặc đồng lõa với cái ác. Đôi khi thơ rất cần tiếng nói hồn nhiên của đời sống cũng như đời sống cần có thơ để xoa dịu nỗi đau. Đề tài thì nhiều nhưng viết như thế nào để đến được trái tim người đọc là việc khó, để có thơ hay càng khó hơn trong sự bùng nổ thơ ca hiện nay.

Ở Trần Kim Anh, tố chất một tác giả thơ trong chị là rất rõ, chị đã bước qua sự trật trưỡng để tìm về những giá trị đích thực nơi bản chất của thơ để mà không mòn sáo khiên cưỡng, không ôi a văn vần, không hằn học chửi đổng hoặc cố tình làm mới thơ ở sự cực đoan...

Thơ vẫn có thể làm chính trị nhưng phải là thứ chính trị thuộc về trái tim. Điều quan trọng hơn nữa trước tiên thơ phải là thơ cái đã. Thơ Trần Kim Anh không chỉ thiên về tình cảm mà còn thể hiện điều đó.  Trong bài Thái cực chị đã mượn cái nhìn của triết học để tìm đến thơ khi viết về những đặc tính của phụ nữ: Phía trắng/ là sự tỉa tót mãn nguyện em/ Sông dâng sóng ngầm trong trẻo/  Người đàn bà say vương miện của riêng mình/ Phía đen / Những cơn cớ thất thường đỏng đảnh/ Mẫn cán canh vương quốc của mình…Và đây, tình cảm của tác giả được nhìn qua cái nhìn của lý trí mà vẫn rất thơ: Rừng cao nhỉ /Gió trời ngằn ngặt lạnh/ Thốc vào xương thịt bản Mường ...Chị tài hoa ở thể thơ lục bát khá nhuyễn: Lạc con sóng, lạc trăng sao/ Nghi Tàm rợp bóng liễu chao ngang mày/ Nào thì bước mỏng lá bay/ Sương Tây Hồ dắt đắm say trao mình …Hoặc nữa , có những câu làm người đọc xao lòng: Nào tình lỡ chút riêng đêm / Sương la đà ướp lạnh thềm mây xiêu / Ngàn đêm nuối giọt nắng chiều / Chạm bờ mắt thẳm lỡ điều chênh chao. Những câu thơ như vậy không phải lúc nào người làm thơ cũng có được .
Mảng đề tài viết về đời sống và những người thân như cha, mẹ, chị gái hay thân phận riêng tư cũng là những đề tài được chị quan tâm săn sóc để mang về cho người đọc những câu thơ hay và mới. Bài Chợ quê: Giọng mua câu dặm mây chùa/ Trôi hun hút phía gió lùa áo tơi / Giọng rừng nấm,gỗ, nón cơi/ Giọng làng cà nhút bám đời đục trong hoặc chị hốt hoảng trước tuổi 92 của mẹ: Con cúi lạy bốn phương trời đất/ Chuối đừng chín nữa gió đừng lay ...Và còn nhiều những câu hay, có thể dẫn ra nếu khuôn khổ bài viết cho phép .

Khi đàn ong bay đi là tập thơ thứ ba Trần Kim Anh ra mắt bạn đọc sau hai tập Giao mùa, Nhện đỏ cùng các giải thưởng thơ của một số cuộc thi từ năm 1996 đến năm 2011. Thơ và những bài viết công phu của chị đã được đăng tải trên những trang báo lớn chuyên về văn chương trong cả nước. Đó là sự nỗ lực không ngừng trong quá trình sáng tác. Chiêm nghiệm. Học. Đi. Viết là tâm nguyện của chị. Chị xứng đáng được độc giả ngưỡng mộ, yêu mến và để mắt tới.

----------------------------------Bài in trên báo Người Hà Nội